• Sài Gòn 1979
  • Reunion 2009
  • Toronto 2004
  • Sài Gòn 2012
  • Phú Thọ
  • Texas 2017
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
Bạn đang ở: Trang Nhà Sáng Tác Đoản Văn Sa cơ

Sa cơ

Nguyên tác “A Friend in Need” của William Somerset

Lời Người Dịch: William Somerset Maugham (1874-1965) là tác giả người Anh, viết kịch bản, tiểu thuyết và truyện ngắn rất nổi tiếng lúc sinh thời. Mồ côi cha lẫn mẹ lúc lên 10, ông được nuôi nấng bởi người bác. Không muốn trở thành luật sư như những người trong dòng họ, ông học và trở thành bác sĩ. Sau khi cuốn tiểu thuyết đầu tay được xuất bản và bán hết sạch nhanh chóng, ông bỏ nghề Y và dành toàn thời gian để viết.

Truyện ngắn sau là bản dịch “A Friend in Need”.  Sát nghĩa thì phải là  “Một Người Bạn Cần Giúp Đỡ”.  Dựa theo cốt truyện thì có thể đặt tựa  “Trông Mặt Mà Bắt Hình Dong”. Cuối cùng ND đã chọn “ Sa Cơ “, một cho ngắn gọn, hai là để phù hợp với “ A Friend “ như trong tựa đề nguyên gốc. Xin mời bạn đọc.

                              

Trong ba mươi năm nay tôi đã gắng tìm hiểu về những người đồng hương của mình. Tôi không biết nhiều về họ. Chắc chắn là tôi do dự khi mướn một người tớ chỉ dựa vào vẻ ngoài của y, tuy nhiên tôi cho rằng chúng ta hầu như trông mặt mà bắt hình dong. Ta luôn rút ra những kết luận dựa vào ánh mắt, khóe miệng, hoặc hình dạng cái cằm. Tôi tự hỏi thường thì ta đúng nhiều hơn sai chăng. Lý do những cuốntiểu thuyết và những vở kịch không giống với đời sống là vì tác giả của chúng, có lẽ do sự cần thiết, đã dựng lên những nhân vật trọn vẹn. Họ không thể tạo ra những nhân vật tự mâu thuẫn, vì làm như vậy sẽ khiến ta khó hiểu, tuy vậy đa số con người đều tự mâu thuẫn.  Con người là một tập hợp của những phẩm chất không nhất quán, trước sau như một. Trong những cuốn sách về lý luận, họ dạy ta rằng thật là ngu ngốc khi cho rằng màu vàng có hình ống hay lòng biết ơn thì nặng hơn không khí; nhưng trong cái hỗn hợp tạo thành con người, cái hỗn hợp bao gồm biết bao là sự phi lý, thì màu vàng có thể là con ngựa kéo cái xe, và lòng biết ơn thì ở giữa tuần tới. Tôi thường nhún vai khi người ta nói rằng ấn tượng đầu tiên về một người luôn luôn đúng. Tôi nghĩ họ hoặc là thiển cận hoặc là quá hời hợt. Về phần mình tôi nghiệm ra một điều là biết con người càng nhiều, tôi càng rối trí; có thể nói rằng những người bạn lâu năm nhất của tôi lại là một trong số những người mà tôi chẳng hiểu chút gì về họ.

Những suy gẫm này đến với tôi bởi vì trong tờ báo sáng nay tôi đọc được tin Edward Hyde Burton đã chết ở Kobe. Ông ta là một thương gia làm ăn ở Nhật trong nhiều năm. Tôi biết rất ít về ông ấy, nhưng tôi chú ý bởi vì đã có lần ông ta làm tôi thật sự ngạc nhiên. Nếu không được nghe câu chuyện từ chính miệng ông ta kể, sẽ không bao giờ tin rằng ông ta có khả năng hành xử như vậy. Càng sửng sốt hơn bởi vì cả vẻ ngoài lẫn tính chất, cho thấy ông ta là một loại người khác. Nếu từng có một con người trọn vẹn thì chính là đây. Người nhỏ thó, không cao hơn thước sáu, gầy gò với mái tóc bạc, khuôn mặt đỏ có những vết nhăn, đôi mắt màu xanh. Lần đầu gặp, tôi đoán ông ta khoảng chừng sáu mươi. Luôn luôn gọn ghẽ và ăn mặc phù hợp với tuổi tác và vai vế.

Mặc dù văn phòng ông ta ở thành phố Kobe, Burton thường xuống Yokohama. Một dịp tình cờ tôi ở đó vài ngày chờ một chuyến tàu, và tôi được giới thiệu với ông ấy tại Câu-lạc-bộ Anh. Chúng tôi chơi bài với nhau. Ông ta chơi khá giỏi. Ít nói ngay lúc đang chơi lẫn sau đó lúc chúng tôi cùng uống rượu, tuy vậy những gì ông nói thì nhạy bén.  Nơi ông ta có một vẻ diễu cợt không ồn ào, khô khan. Nhiều người ở câu-lạc-bộ biết đến ông ta, và sau khi ông ra về, họ thường mô tả ông như là một trong những kẻ tốt nhất. Tình cờ chúng tôi trú chung khách sạn Grand Hotel và ngày hôm sau ông ta mời tôi ăn tối. Tôi được gặp vợ và hai cô con gái ông, bà vợ mập, già, luôn mỉm cười. Rõ ràng đó là một gia đình êm ấm và hòa thuận. Tôi nghĩ cái ấn tượng sâu sắc về ông chính là sự tử tế của ông ấy.

 

Trong đôi mắt xanh lơ của ông, ta nhìn thấy sự mãn nguyện. Giọng nói nhẹ nhàng, bạn không thể tưởng ra ông có thể lớn tiếng lúc tức giận, miệng lúc nào cũng như cười. Con người này quả là đáng mến bởi vì bạn cảm nhận nơi ông ta một tình thương đồng loại. Ông ta đầy hấp dẫn, nhưng không có vẻ gì ủy mị: ông ta thích chơi bài và thích món rượu pha, có thể kể rất hay một câu chuyện mặn mà, và khi còn trẻ đã từng chơi thể thao. Ông ta giàu có và chính tự tay mình dựng nên sự nghiệp. Tôi nghĩ điều làm người ta ưa thích chính là vẻ yếu đuối nhỏ nhoi của ông; gợi lên trong ta cái bản năng muốn bảo vệ. Bạn cảm thấy rằng ông ta không chịu nổi việc sát hại dù một con ruồi.

Vào một buổi trưa tôi đang ngồi ở sảnh đường khách sạn Grand. Đó là lúc trước trận động đất và họ có những cái ghế da có tay dựa. Từ cửa sổ bạn có thể quan sát thấy toàn cảnh hải cảng đầy tàu bè qua lại. Có những chiếc tàu lớn đang trên đường tới Vancouver và San Francisco hay đi châu Âu ngang qua Thượng-hải, Hồng-kông, và Singapore; có những chiếc tàu chở hàng thuê thuộc đủ các nước, xơ xác và hoen rỉ, đuôi tàu cao với những cánh buồm sặc sỡ, và nhiều vô số kể những chiếc tàu nhỏ.  Cảnh bên ngoài quá ư náo nhiệt, nhưng không biết tại sao trong lòng mình lại cảm thấy êm ả. Sự lãng mạn là đây và có vẻ bạn chỉ cần vói tay là chạm tới.

Burtonbước vào sảnh và nhìn thấy tôi. Ông ta ngồi vào cái ghế bên cạnh.


- Uống chút gì không?

Ông ta vỗ tay gọi bồi và kêu hai ly rượu. Đang lúc cậu bồi mang rượu ra, có một người đàn ông đi ngang, nhìn thấy tôi, y vẫy tay chào.

- Bạn có biết Turner à? Burton hỏi lúc tôi gật đầu chào lại người đàn ông.

-Tôi gặp Turner ở câu-lạc-bộ. Họ nói anh ta là người chuyển tiền.

- Đúng vậy. Ở đây có khá nhiều người làm công việc chuyển tiền.

-Anh ta chơi bài khá.

-Bọn họ thường ai cũng chơi khá. Năm ngoái ở đây có một tay, kỳ dị thay lại trùng họ với tôi, trong những người tôi từng gặp qua, y là tay chơi bài giỏi nhất. Tôi đoán rằng bạn chắc chưa bao giờ gặp anh ta ở London. Anh ta tự xưng là Lenny Burton. Tôi tin anh ta là hội viên của một vài câu-lạc-bộ tốt nhất.

-Không, tôi không tin là mình nhớ cái tên đó.

- Anh ta là một tay chơi bài thật xuất sắc. Dường như anh ta có một năng khiếu đặc biệt về bài. Thật khó hiểu. Tôi đã chơi với anh ta nhiều lần. Anh ta đã từng sống ở Kobe.

Ông ta nhấm nháp ly rượu gin pha.

“Chuyện khá buồn cười,” Ông ta bắt đầu kể.  “ Anh ta không phải là một gã tệ. Tôi thật sự ưa mến anh ta. Luôn luôn ăn mặc tươm tất, dáng dấp trông thông minh sáng sủa. Anh ta đẹp trai, với mái tóc quăn và đôi má trắng hồng. Được nhiều bà mê. Anh ta tuy hoang dại nhưng vô hại. Dĩ nhiên anh ta luôn uống quá chén. Những người trong giới anh ta thường là như vậy. Mỗi một ba tháng anh ta có một món tiền từ nhà gửi đến và anh ta kiếm thêm một mớ nhờ chơi bài. Anh ta ăn khá nhiều tiền của tôi. Tôi biết điều đó.”

Burtoncười không thành tiếng. Từ kinh nghiệm mình, tôi thừa biết ông ta có thể thua bài mà vẫn giữ được sự bình thản chứ không nổi cộc. Với bàn tay mỏng, ông ta sờ cái cằm nhẵn thín của mình; và ta hầu như nhìn thấy rõ những sợi gân tay nổi lên.

“Ăn tiền tôi dễ dàng và dựa trên sự kiện cùng họ Burton, đó là lý do tại sao anh ta tìm tới tôi khi hết tiền. Một ngày nọ, anh ta tìm tới văn phòng tôi và hỏi xin việc. Tôi khá ngạc nhiên. Anh ta bảo tôi là nhà không còn gửi tiền và anh ta muốn tìm việc làm. Tôi hỏi anh ta bao nhiêu tuổi.”

- Ba mươi lăm, anh ta trả lời.

- Và cậu đã làm những việc gì? 

- Ô, không làm gì cả.

“Tôi không thể nín cười.”

- E rằng tôi không thể giúp được gì cho cậu lúc này. Trở lại và gặp tôi trong ba mươi lăm năm nữa, và tôi coi có thể giúp được gì không.

“Anh ta bất động. Mặt xanh lè. Hơi do dự, anh ta kể với tôi rằng anh ta gặp vận xui chơi bài. Anh ta không dừng ở môn bài thường chơi, anh ta chơi xì phé, và bị lột sạch. Không còn một xu. Đã cầm cố hết mọi thứ. Không thể trả tiền thuê khách sạn và họ không chịu cho anh ta tiếp tục thiếu nợ. Anh ta tận cùng bằng số. Nếu không kiếm được việc gì làm, chắc là anh ta sẽ tự tử.”

“Tôi nhìn anh ta một hồi lâu. Tôi có thể thấy anh ta hoàn toàn rã rượi.  Rượu chè quá chén, anh ta nhìn như ông già năm mươi. Bây giờ có gặp, đàn bà chắc cũng coi thường anh ta.”

- Cậu không thể làm gì khác hơn là chơi bài ư ?

- Tôi biết bơi.

- Bơi ! 

“ Tôi hầu như không thể tin ở đôi tai mình; có vẻ đó là một câu trả lời không bình
thường.”

- Tôi từng bơi cho trường đại học.

“ Tôi mơ hồ đoán được ý anh ta muốn nói gì. Tôi từng biết khá nhiều tay từng là kiện tướng ở trường đại học, nên không ấn tượng gì cho lắm.”

- Tôi cũng là tay bơi khá lúc còn trẻ.

Ngưng ngang câu chuyện đang kể, Burton quay qua hỏi tôi.

- Bạn có biết thành phố Kobe không ?

- Không. Tôi đi ngang qua đó một lần, nhưng chỉ nghỉ qua đêm.

- Vậy chắc bạn không biết câu-lạc-bộ Shioya. Lúc còn trẻ, tôi đã từng bơi từ chỗ đó vòng qua ngọn hải đăng và tới đầu con lạch Tarumi. Khoảng cách hơn ba dặm và khá khó khăn do dòng chảy xiết chung quanh ngọn hải đăng. Tôi bảo gã trai trẻ cùng họ về khúc biển đó và nói nếu anh ta bơi được thì tôi sẽ cho anh ta việc làm.

“ Tôi có thể thấy là anh ta ngập ngừng, do dự.”

- Cậu nói cậu là tay bơi lội.

- Tôi không còn sung sức như xưa.

“ Tôi nhún vai không nói gì cả. Anh ta nhìn tôi hồi lâu rồi gật đầu.”

- Được, khi nào thì ông muốn tôi bắt đầu ?

“ Tôi nhìn đồng hồ tay, mới mười giờ.”

- Bơi đoạn đó không quá một tiếng mười lăm phút. Tôi sẽ lái xe vòng tới con lạch lúc mười hai giờ ba mươi và sẽ gặp cậu ở đó. Mình sẽ trở lại câu-lạc-bộ để cậu thay quần áo và rồi mình sẽ ăn trưa với nhau.

- Được.

“ Chúng tôi bắt tay nhau. Tôi chúc anh ta may mắn và anh ta bỏ đi. Tôi khá bận bịu ngày hôm đó và tôi tới con lạch ở Tarumi khoảng mười hai giờ ba mươi. Nhưng tôi không cần phải vội vàng; anh ta không bao giờ xuất hiện.”

- Anh ta lạnh cẳng vào phút cuối ? Tôi hỏi.

- Không, anh ta không lạnh cẳng. Anh ta bắt đầu ngay. Nhưng dĩ nhiên anh ta tự hủy hoại cơ thể mình do nhậu quá nhiều và phung phí sức khỏe. Dòng nước chảy xiết chung quanh hải đăng mạnh hơn sức anh ta. Khoảng ba ngày sau xác nổi lên.

Tôi không biết nói gì hơn một hồi lâu. Quá ư là xốc. Sau đó tôi hỏi Burton một câu hỏi.

- Khi đề nghị như thế, ông có biết anh ta sẽ bị chết đuối ?

Rung người cười nhẹ, ông ta nhìn tôi bằng đôi mắt xanh lơ tử tế đó, rồi dùng bàn tay xoa cằm.

- Lúc đó văn phòng tôi không thiếu người làm.


Toronto
14/11/2012
VNToàn

Thêm bình luận

Thư từ bài vở xin email vê
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.